TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC NEWZEALAND

New Zealand là nền kinh tế lớn thứ 51 thế giới với GDP đạt 203 tỷ USD năm 2018 theo số liệu của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF). Loại tiền tệ sử dụng tại New Zealand là đồng đô la New Zealand (NZD). Một đô la New Zealand có trị giá khoảng 0,66 đô la Mỹ (tháng 5/2019). Giống như hầu hết các quốc gia OECD, nền kinh tế New Zealand chủ yếu hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường. Nhà nước tạo môi trường, khuôn khổ pháp luật thương mại cho sự vận hành của nền kinh tế, chỉ kiểm soát một số lĩnh vực quan trọng như phát hành tiền tệ, giáo dục, y tế v.v.

2019-08-24 12:12:08 - New Zealand

 

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC NEWZEALAND

Tên đầy đủ

 

New Zealand

Vị trí địa lý

 

Châu Đại Dương, đảo thuộc biển Nam Thái Bình Dương, phía Đông Nam của Australia

Diện tích Km2

 

268.838 km2

Tài nguyên thiên nhiên

 

Vàng, sắt, than đá, đá vôi, cát, gỗ xẻ, khí tự nhiên, tiềm năng thuỷ điện

Dân số (2018)

 

4.926.400 người  

Cấu trúc dân số (2013)

 

0-14 tuổi: 19,62%
15-24 tuổi: 13,16%
25-54 tuổi: 39,58%
55-64 tuổi: 12,06%
Trên 65 tuổi: 15,57%

Dân tộc

 

Châu Âu (74%), Maori (15%), Châu Á (12%), cư dân gốc đảo Thái Bình Dương (7%), Trung Đông, Mỹ La-tinh, Châu Phi (1%)

Ngôn ngữ chính thức

 

Tiếng Anh và Tiếng Maori  

Thủ đô

 

Wellington

Quốc khánh

 

06/02/1840 (ngày ký hiệp ước Waitangi)

Hệ thống pháp luật

 

Dựa theo luật của Anh

Tiền tệ

 

Đô la New Zealand (NZD)

GDP (2018)

 

293 tỷ NZD

Tỷ lệ tăng trưởng

GDP (2018)  

 

2.8%

GDP theo cấu trúc ngành

 

Nông nghiệp: 6,57%, sản xuất: 19,18%, dịch vụ: 65,56%, khác: 8,69%

Lực lượng lao động

(ước tính tháng 3/2019)  

 

3,93 triệu người

Các ngành chính

 

Nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt, gỗ và sản phẩm gỗ, sản xuất, khai thác mỏ, xây dựng, dịch vụ tài chính, dịch vụ bất động sản, du lịch

Sản phẩm nông nghiệp

 

Các sản phẩm từ sữa, thịt cừu, thịt bò, gà, hải sản, trái cây, rau, lúa mì, lúa mạch, rượu vang

Xuất khẩu (2018)  

 

82,2 tỷ NZD (tương đương 54,2 tỷ USD)

Mặt hàng xuất khẩu

 

Sản phẩm sữa, thịt và nội tạng ăn được, gỗ và sản phẩm gỗ, trái cây, dầu thô, rượu vang

Đối tác xuất khẩu 

 

Trung Quốc, Australia, Liên minh Châu Âu, Mỹ, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc  

Nhập khẩu (2018)    

 

80,8 tỷ NZD (tương đương 53,3 tỷ USD)

Mặt hàng nhập khẩu

 

Máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải và phụ tùng; xăng và các sản phẩm từ xăng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và thiết bị; dệt may

Đối tác nhập khẩu 

 

Liên minh Châu Âu, Trung Quốc, Australia, ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, Singapore  

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh đất nước new zealand

Địa lý:  

New Zealand nằm ở cực tây của Polynesia, thuộc Nam Thái Bình Dương, cách phía đông nam Australia khoảng 1.600 km. Lãnh thổ New Zealand gồm 3 phần chính là Đảo Nam (150.437 km2), Đảo Bắc (113.729 km2), Đảo Stewart (1.680 km2) và khoảng 700 đảo nhỏ ngoài khơi. Đảo Bắc có “xương sống” là một loạt các dãy núi, bao bọc bởi các vùng đất nông nghiệp. Trung tâm Đảo Bắc là Cao nguyên Núi lửa, khu vực có sự hoạt động của núi lửa. Dãy Southern Alps đồ sộ tạo thành xương sống của Đảo Nam. Ở phía đông của dãy Southern Alps là vùng đất nông nghiệp Otago, Southland, và đồng bằng Canterbury rộng lớn, bằng phẳng.

Khí hậu: New Zealand có khí hậu ôn hòa nhưng thay đổi thất thường, kể cả trong ngày. Đảo Bắc có khí hậu ấm hơn Đảo Nam. Lượng mưa trung bình khoảng 600-1500mm/năm. 

Lịch sử:

Những người đầu tiên sinh sống ở New Zealand là người Maori đến từ vùng Polynesia khoảng 1300 năm sau Công nguyên. Họ sống theo bộ lạc với nghề làm vườn, bắt chim, cá, chế tạo công cụ, vũ khí và đồ trang sức.

Nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman là người Châu Âu đầu tiên khám phá ra New Zealand vào năm 1642. Nhà hàng hải người Anh James Cook lập bản đồ New Zealand vào năm 1769-1970.  

Năm 1840, người Maori ký Hiệp ước Waitangi với đại diện của Nữ hoàng Anh về việc trao chủ quyền kiểm soát New Zealand cho Vương Quốc Anh để được quyền sở hữu đất đai và quyền công dân Anh. Ngày mùng 6 tháng 2 năm 1840 trở thành ngày Quốc khánh New Zealand.

Vào năm 1907, New Zealand tuyên bố trở thành lãnh thổ tự trị và năm 1945 bỏ danh hiệu “lãnh thổ tự trị”, trở thành thành viên Liên Hợp quốc với quốc hiệu “New Zealand”. New Zealand là quốc gia đầu tiên cho phép phụ nữ quyền bầu cử vào năm 1893.

Thể chế chính trị:

Theo thể chế Quân chủ nghị viện, đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng Anh, thông qua đại diện là Thống đốc do Nữ hoàng bổ nhiệm. Thống đốc hiện tại là Bà Dame Patsy Reddy, được bổ nhiệm năm 2016.

Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Kể từ năm 1907, Quốc hội New Zealand chỉ có 01 viện là Viện Dân biểu, gồm 120 ghế, được bầu 3 năm một lần. Chủ tịch Quốc hội là ông Trevor Mallard (2017).

Người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Sau khi bầu cử Quốc hội, Thủ lĩnh của Đảng đa số hoặc của Liên minh đa số thường được Thống đốc bổ nhiệm làm Thủ tướng. Thủ tướng hiện tại là Bà Jacinda Ardern, Lãnh đạo Công đảng, được bổ nhiệm năm 2017. Các Phó Thủ tướng cũng do Thống đốc bổ nhiệm.

Kinh tế:

New Zealand là nền kinh tế lớn thứ 51 thế giới với GDP đạt 203 tỷ USD năm 2018 theo số liệu của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF). Loại tiền tệ sử dụng tại New Zealand là đồng đô la New Zealand (NZD). Một đô la New Zealand có trị giá khoảng 0,66 đô la Mỹ (tháng 5/2019). Giống như hầu hết các quốc gia OECD, nền kinh tế New Zealand chủ yếu hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường. Nhà nước tạo môi trường, khuôn khổ pháp luật thương mại cho sự vận hành của nền kinh tế, chỉ kiểm soát một số lĩnh vực quan trọng như phát hành tiền tệ, giáo dục, y tế v.v.    

Lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế New Zealand, đóng góp 65,56% GDP năm 2018. Các lĩnh vực dịch vụ chủ yếu gồm du lịch, vận tải, giáo dục, CNTT, viễn thông, kế toán, sản xuất phim. Vai trò của sản xuất và nông nghiệp ngày càng giảm sút, chiếm tỷ lệ tương ứng 19,18% và 6,57% GDP. Mặc dù có tỷ trọng GDP nhỏ, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế tiêu biểu của New Zealand với các sản phẩm đặc trưng như bơ sữa, thịt cừu, thịt bò, len, gỗ (chủ yếu là gỗ thông), trái cây, mật ong.   

Do thị trường nội địa có dung lượng nhỏ, kinh tế New Zealand phụ thuộc rất lớn vào thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Theo đó, New Zealand chủ trương ủng hộ thương mại tự do với việc tích cực đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, AANZFTA, Hiệp định RCEP, FTA với EU, Vương Quốc Anh, nâng cấp FTA với Trung Quốc. Đồng thời New Zealand cũng tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng để thu hút đầu tư nước ngoài. Trong 3 năm liên tiếp từ 2017-2019, New Zealand xếp hạng 1/190 quốc gia về môi trường minh bạch theo Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới.

Năm 2018, kim ngạch thương mại hai chiều (bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ) của New Zealand đạt 163 tỷ NZD, trong đó xuất khẩu đạt 82,2 tỷ NZD, nhập khẩu đạt 80,8 tỷ NZD. Xét về kim ngạch xuất khẩu, nông nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 43% (New Zealand là nước xuất khẩu nông sản lớn thứ 12 thế giới, số 1 về sữa, thịt cừu và số 2 về len). Dịch vụ  chiếm khoảng 30% và hàng hóa phi nông nghiệp (sản phẩm gỗ, dầu thô và xăng) chiếm khoảng 27% kim ngạch xuất khẩu.

Các mặt hàng nhập khẩu hàng đầu của New Zealand gồm: máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải và phụ tùng; xăng và các sản phẩm từ xăng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và thiết bị; dệt may; nhựa và sản phẩm nhựa; sắt, thép và sản phẩm sắt thép; thiết bị quang học, y tế và đo lường.

Các đối tác thương mại lớn nhất của New Zealand là Trung Quốc, Australia, Liên minh Châu Âu, ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Năm 2018, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 16 của New Zealand.

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh đất nước new zealand

Nguồn: Cục Thống kê New Zealand, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Từ điển bách khoa New Zealand, Bộ Ngoại giao và Thương mại New Zealand, NZHistory

Nguồn: http://vietnamexport.com

 

0

Doanh nghiệp

0

Sản phẩm

0

Năm Hoạt động

Đã xảy ra lỗi xác thực. Vui lòng nhập các trường và gửi lại.
Chúc mừng bạn ! Đã đăng ký thành công